Thứ Tư, 31 tháng 8, 2011

Rủi ro quốc gia VN qua góc nhìn của giá vàng

Nếu lấy gốc giá vàng từ 2000, thì tính đến nay vàng tính theo giá đồng nội tệ tại các quốc gia trong Major Customer Countries của Ai Cập tăng cao nhất >10 lần, Việt Nam đứng thứ nhì (gần 8.5 lần). Trong khi đó, Úc là quốc gia có mức tăng thấp nhất, chỉ 3 lần.
Sự tăng giá của vàng so với đồng nội tệ cho thấy một thực tế tại các quốc gia này. Các quốc gia có chính sách thông thoáng trong việc in tiền giải quyết các quốc đề chi tiêu sẽ dễ đẩy tình trạng đồng nội tệ mất giá so với kim loại quý vàng. Ngoài vấn đề in tiền ra, tại những quốc gia này có thể tồn tại tình trạng đầu tư kém hiệu quả, tham nhũng, quyền lợi nhóm lợi ích quá lớn dẫn đến sự loppy chính sách phục vụ nhóm lợi ích, kể cả chính phủ. Chính những nguyên nhân gốc rễ này làm giá trị đồng nội tệ ngày càng suy yếu.
Và cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra, Ai Cập hiện đang là một trong những quốc gia có rủi ro nợ quốc gia lớn nhất, nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn.
Trong khi đó, Úc đang chứng minh cho thế giới biết sự ổn định kinh tế, khả năng tự tạo tiền, giải quyết công ăn việc làm tốt.
Vậy bài học gì cho VN, và viễn cảnh sắp tới của VN là gì?
Rõ ràng những tổ chức xếp hạn tín dụng lớn luôn đánh giá thấp VN, cả các tổ chức tài chính cũng đưa VN vào top những quốc gia có khả năng khủng hoảng nợ công không phải là không có lý. Việc mất giá đồng nội tệ trong khi sản xuất trong nước kém cõi đẩy VN ngày càng lệ thuộc vào thế giới và tình trạng "phồn vinh dả tạo" là vấn đề rất đáng ngại.
Những nguy cơ này chỉ được giảm bớt (nếu giải quyết được thì càng tốt) khi chính phủ cẩn trọng cho những chi tiêu tài khóa, xem xét nhiều hơn đến tính hiệu quả của đồng vốn, chú trọng hơn nữa vào sản xuất trong nước, đặt vấn đề tự tạo tiền của quốc gia lên hàng đầu.
Chart biến động giá vàng theo đồng nội tệ (tích lũy) từ năm 2000
./.

Thứ Năm, 18 tháng 8, 2011

Nợ vay ảnh hưởng thế nào đến giá cổ phiếu của chính doanh nghiệp? Liệu đòn cân nợ này có ảnh hưởng đến hệ số rủi ro của nhà đầu tư khi cân nhắc sử dụng margin?


Trong bối cảnh lãi suất đang cao ngất ngưỡng như hiện nay, nợ vay bỗng chốc trở thành gánh nặng không chỉ cho các doanh nghiệp mà còn cho cả nhà đầu tư chứng khoán. Trong bài viết này, chúng ta cùng nhau định lượng mức độ tác động của gánh nặng nợ vay lên biến động giá cổ phiếu của chính doanh nghiệp. Qua đó, nhìn nhận lại mức độ rủi ro cá nhân mà nhà đầu tư phải gánh chịu khi sử dụng nợ vay cho hoạt động đầu tư chứng khoán, đặc biệt trong bối cảnh dịch vụ margin sắp được hợp pháp hóa.

Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu nợ vay, tài sản và biến động giá của tất cả cổ phiếu niêm yết qua 2 giai đoạn, giai đoạn tăng bắt đầu từ ngày 24 tháng 2 năm 2009 đến ngày 22 tháng 10 năm 2009 và giai đoạn giảm bắt đầu từ 22 tháng 10 năm 2009 đến hiện nay (16/08/2011). Trong từng giai đoạn, việc nghiên cứu lại được tiến hành trên 3 nhóm cổ phiếu có mức độ sử dụng nợ khác nhau, cụ thể:
+ Giai đoạn tăng: nhóm doanh nghiệp có nợ vay (NV) trên tổng tài sản (TTS) dưới 25%; nhóm doanh nghiệp có nợ vay trên tổng tài sản từ 25% đến 50% và nhóm doanh nghiệp có nợ vay trên 50% tổng tài sản.
+ Giai đoạn giảm: nhóm doanh nghiệp có nợ vay trên tổng tài sản dưới 20%; nhóm doanh nghiệp có nợ vay trên tổng tài sản từ 20% đến 40% và nhóm doanh nghiệp có nợ vay trên 40% tổng tài sản.
Biến động giá của các cổ phiếu được so sánh với HNX-Index, HNX-Index được xem như chỉ số đại diện của thị trường, sở dĩ sử dụng HNX-Index mà không sử dụng VN-Index là vì VN-Index quá lệ thuộc vào các cổ phiếu có vốn hóa lớn, dẫn đến không phản ánh đúng độ rộng toàn thị trường.
Giai đoạn tăng
Giai đoạn giảm
HNX-Index
179.8%
-69.9%
Trung bình NV / TTS
36.9%
31.8%
Trung vị NV / TTS
37.0%
31.7%



Kết quả thống kê cho thấy, tỷ lệ nợ vay trên tổng tài sản của tất cả doanh nghiệp niêm yết trên thị trường trong giai đoạn tăng trưởng là 36.9% cao hơn giai đoạn suy thoái (31.8%). Đây là điều dễ hiểu vì trong giai đoạn tăng trưởng, nền kinh tế được hỗ trợ bởi mức lãi suất rất thấp, nhu cầu toàn xã hội tăng cao tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp mở rộng đầu tư, mở rộng sản xuất, tăng cường vay nợ. Còn trong giai đoạn giảm, lãi suất tăng cao, nhu cầu xã hội thấp, việc sản xuất, đầu tư gặp khó khăn thì chiến lược ưu tiên sẽ là cắt giảm chi phí, thu hẹp hoạt động, giảm nợ vay.

Biểu đồ: Tương quan giữa biến động giá cổ phiếu và đòn cân nợ vay trong giai đoạn thị trường tăng từ 24.02.2009 đến 22.10.2009

Biểu đồ: Tương quan giữa biến động giá cổ phiếu và đòn cân nợ vay trong giai đoạn thị trường giảm 22.10.2009 đến nay



Phân tích tương quan cho thấy, tỷ lệ nợ vay trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến mức độ biến động giá cổ phiếu trên thị trường. Mối liên quan này rõ ràng hơn trong giai đoạn thị trường giảm khi hệ số tương quan trong giai đoạn này là -0.15, trong khi đó hệ số này trong giai đoạn thị trường tăng chỉ là 0.07. Dấu (-) của hệ số tương quan trong thị trường giảm cho biết những doanh nghiệp sử dụng nhiều nợ vay chịu áp lực giảm giá nhiều hơn so với các doanh nghiệp có cơ cấu nợ vay ít hơn. Dấu (+) của hệ số tương quan trong thị trường tăng cho biết những doanh nghiệp sử dụng nhiều nợ vay lại có khả năng tăng giá tốt hơn.
Giai đoạn tăng
NV <25%
NV từ 25% đến <50%
NV >=50%
TB biến động giá
232.7%
225.9%
264.9%
Trung vị biến động giá
219.5%
185.7%
244.5%
Xác suất chọn được CP tăng mạnh hơn HNX-Index
60.0%
51.6%
61.0%
Xác suất chọn CP tăng chậm hơn HNX-Index
40.0%
48.4%
39.0%



Giai đoạn giảm
NV <20%
NV từ 20% đến <40%
NV >=40%
TB biến động giá
-49.2%
-59.4%
-58.7%
Trung vị biến động giá
-57.0%
-64.6%
-65.9%
Xác suất chọn CP giảm mạnh hơn HNX-Index
17.5%
38.3%
44.2%
Xác suất chọn CP giảm chậm hơn HNX-Index
82.5%
61.7%
55.8%

Kết quả trên một lần nữa được khẳng định khi chúng ta xem xét xác suất lựa chọn được cổ phiếu có biến động giá tích cực hơn chỉ số chung toàn thị trường. Trong giai đoạn thị trường bất lợi, xác suất chọn phải cổ phiếu giảm giá mạnh hơn HNX-Index ở nhóm nợ vay cao nhất lên đến 44.2%, xác suất này giảm dần ở nhóm nợ vay trung bình (38.3%) và chỉ còn 17.5% ở nhóm nợ vay thấp nhất. Như vậy, trong giai đoạn thị trường giảm, nhà đầu tư nên trú ẩn vào các cổ phiếu có tình hình tài chính lành mạnh, tỷ lệ vay nợ thấp và  nên tránh xa những cổ phiếu có đòn cân nợ cao.
Thế nhưng chiến lược trên không phải là chìa khoá vạn năng trong bất kỳ tình hình thị trường nào. Ở giai đoạn tăng, việc đặt cược vào nhóm cổ phiếu có đòn cân nợ lớn không hẳn sẽ mang lại kết quả đáng buồn như trong giai đoạn thị trường giảm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhóm cổ phiếu sử dụng nợ vay cao nhất có xác suất chiến thắng thị trường cao nhất (61%); nhóm sử dụng nợ vay thấp nhất xác suất này là 60%, nhóm vay nợ trung bình thấp nhất (chỉ 51.6%). Như vậy, để tận dụng những thuận lợi của thời kỳ tăng trưởng như lãi suất thấp, nhu cầu xã hội cao… Bên cạnh danh mục truyền thống đầu tư vào những cổ phiếu vững mạnh, khả năng tạo tiền tốt, tỷ lệ nợ vay thấp, nhà đầu tư nên dành một phần danh mục của mình cho những cổ phiếu có kế hoạch kinh doanh đột biến, những cổ phiếu có nhiều tham vọng, dám sử dụng nhiều nợ vay nhằm tăng hiệu quả đa dạng hoá giúp mang lại suất sinh lợi cao nhất cho nhà đầu tư.

Kết quả nghiên cứu trên cùng với kết luận của Modigliali và Miller (MM) “trong thị trường hoàn hảo, việc vay nợ để mua vào chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân không khác biệt so với việc vay nợ của chính doanh nghiệp phát hành cổ phiếu đó”, nghĩa là nhà đầu tư có thể tự tạo đòn bẩy tài chính thay cho doanh nghiệp. Cụ thể, MM cho rằng tỷ suất sinh lợi của nhà đầu tư không sử dụng nợ vay vào cổ phiếu của doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy nợ vay 50% bằng với tỷ suất sinh lợi của nhà đầu tư sử dụng đòn bẩy 50% vào cổ phiếu của doanh nghiệp không sử dụng nợ vay. Trong bối cảnh, margin sắp được hợp pháp hóa, nhà đầu tư nên bắt đầu nhìn nhận lại hệ số rủi ro tài chính của mình, trong đó nên xem xét thêm đòn cân nợ vay tại các doanh nghiệp đầu tư để tránh ước lượng mức rủi ro quá thấp so với nguy cơ thật sự phải chịu. 


Thứ Ba, 5 tháng 7, 2011

Morning Star 5.7.11



Những điểm kỹ thuật rất cần chú ý sau phiên hôm nay:
1.    Tại mốc Fibonacci Retracement 61.8%, HNX-Index, Phutoan50 Index đã hoàn thiện mô hình nến Morning Star (vòng tròn màu đen trên chart). Mô hình này có độ tin cậy khá khi nhìn khối lượng giao dịch của phiên hôm qua (4.7.11), thụt giảm đột ngột.
2.    Nếu giả sử phiên hôm qua đánh dấu sự kết thúc của sóng điều chỉnh từ 14.6.11 thì diễn biến khối lượng giao dịch này là phù hợp với mô hình sóng tăng với sóng 1 bắt đầu từ 26.5.11 kết thúc ở 13.6.11.
3.    Xét về khía cạnh time frame thì thị trường đã trải qua 13 phiên trong sóng tăng thứ 1, và cũng khoảng ấy phiên trong sóng giảm thứ 2 (từ 14.6) à cân đối
4.    Các chỉ báo Oscillators cho thấy tín hiệu ok: RSI đổi góc tăng mạnh, Stochastic Oscillator tăng lại từ vùng bán quá mức và lập đáy sau cao hơn đáy trước.
ð  Những tín hiệu kỹ thuật ủng hộ cho nhận định kết thúc sóng điều chỉnh, có thể quay về với sóng tăng mới.
ð  Chiến thuật giao dịch: Những nhận định về kỹ thuật cho thấy xác suất tăng đang cao hơn giảm, nhưng tăng đến mức nào, diễn biến thị trường ra sao vẫn là điều không ai dám chắc. Do vậy, để có thể tận dụng những phiên tăng tiếp theo, chúng ta có thể bán 1 phần khi HNX-Index leo lên mốc 76.5. Đây sẽ là ngưỡng kháng cự mạnh trong ngắn hạn, được chặn bởi MA-20, MA-50 và Fibonacci Retracement 38.2% (màu cam). Trong trường hợp Index tiếp tục chinh phục mốc này và khẳng định sức tăng mạnh mẽ với khối lượng giao dịch lớn thì đó cũng là tín hiệu rất tốt báo hiệu xu hướng trung hạn an lành (đó là những dấu hiệu của sóng thứ 3, đồng thời nếu vượt qua ngưỡng cản này, MA50 cũng cắt MA20 từ trên xuống báo tín hiệu tăng trung hạn), việc mua vào sau đó sẽ rất an tâm; lượng cổ phiếu còn lại tiếp tục tạo lợi thế T+ và sinh lời. (sóng 3 thường là sóng mạnh mẽ nhất và kéo dài thông thường = 1.618 lần sóng 1). Còn trong trường hợp thị trường cho chỉ báo tín hiệu giả thì chúng ta cũng đã có lợi thế nhờ chốt lời giá cao.

Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2011

Chiến lược nào cho nhóm CP giá cao & giá thấp

Từ ý tưởng liệu cổ phiếu thị giá thấp có thể đi nhanh, đi xa hơn cổ phiếu thị giá cao trong bối cảnh hiện nay? Phòng phân tích đã tiến hành thống kê mức độ biến động giá và xác suất tăng/giảm của 2 nhóm cổ phiếu, nhóm thứ 1 có mức giá bé hơn 7000 đồng, nhóm thứ 2 có mức giá cao hơn 30,000 đồng trong chu kỳ wash out từ ngày 9 tháng 5 năm 2011 đến 25 tháng 5 năm 2011; chu kỳ phục hồi từ 26 tháng 5 năm 2011 đến 13 tháng 6 năm 2011; Và đợt điều chỉnh, sideway từ 14 tháng 6 năm 2011 đến 30 tháng 6 năm 2011 ta có bảng số liệu sau:

Chu kỳ giá
9.5 --> 25.5
26.5 --> 13.6
14.6 --> 30.6
Mean
S.Price >30,000 đ
-9.9%
3.9%
-2.2%
S.Price <7000 đ
-17.0%
17.0%
-10.4%
Medium
S.Price >30,000 đ
-8.1%
2.6%
-2.5%
S.Price <7000 đ
-17.4%
17.5%
-11.0%
Probability Down
S.Price >30,000 đ
84.5%
25.0%
62.9%
S.Price <7000 đ
93.0%
11.2%
88.8%
Probability no loss
S.Price >30,000 đ
15.5%
75.0%
37.1%
S.Price <7000 đ
7.0%
88.8%
11.2%

Kết quả thống kê trên cho thấy:

-       Hầu hết cổ phiếu đều chịu tình trạng giảm điểm trong đợt wash out từ 9/5/2011 đến 25/5/2011. Mức độ giảm điểm của nhóm cổ phiếu >30,000 đồng chỉ khoảng 9% trong khi đó chỉ tiêu này của nhóm cổ phiếu <7000 đồng lên đến 17%.
-       Thị trường đón nhận đợt phục hồi khá mạnh từ 26/5/2011 đến 13/6/2011 ngay sau khi xảy ra chu kỳ wash out khủng trước đó. Ở đợt phục hồi này, những cổ phiếu có thị giá <7000 đồng có mức tăng ấn tượng hơn và gần như lấy lại những gì đã mất của đợt wash out, trong khi đó những cổ phiếu có thị giá >30,000 đồng chỉ phục hồi chưa đến 50% giá trị mất đi từ đợt wash out.
-       Đợt điều chỉnh, sideway từ 14/6/2011 đến 30/6/2011, các cổ phiếu <7000 đồng có mức giảm mạnh hơn so với các cổ phiếu >30,000 đồng.
-       Xác suất giảm điểm các cổ phiếu >30,000 đồng thấp hơn nhiều so với xác suất giảm điểm các cổ phiếu <7000 đồng trong thời kỳ wash out và chu kỳ điều chỉnh, sideway. Nhưng xác suất tăng điểm trong giai đoạn thị trường phục hồi lại thấp hơn các cổ phiếu <7000 đồng.

Một số kết luận, nhận định có thể rút ra sau khi phân tích dữ liệu thống kê trên như sau:

(1) Nên nắm giữ các cổ phiếu có thị giá cao khi thị trường giảm hoặc điều chỉnh, sideway để tối thiểu hóa rủi ro. Đồng thời nên nắm giữ các cổ phiếu có thị giá thấp khi thị trường phục hồi sau những phiên wash out để tối đa hóa lợi nhuận.
(2) Thống kê này còn cho thấy sự quay đầu của thị trường trong những phiên từ 26/5/2011 đến 13/6/2011 là thuần hồi kỹ thuật, chứ chưa phải là một trend tăng dài hạn, vì ở đợt sóng này, dòng tiền mang nhiều tính đầu cơ, đánh nhanh rút gọn, biểu hiện là các cổ phiếu giá lớn không thật sự đi xa, mà dòng tiền còi chỉ "ăn theo" đánh vào các cổ phiếu thị giá thấp để tận dụng xu hướng.

Chiến lược sắp tới:

(1) Nếu xảy ra wash out mạnh thì xem xét đợt wash out này có thể kéo dài bao lâu, thời điểm “vào hàng” phù hợp. Vì thị trường thường hồi phục lớn sau wash out mạnh nên khi vào hàng đợt này ưu tiên những cổ phiếu có thị giá thấp.
(2) Nếu không có wash out mạnh, thị trường rớt từ từ, hoặc sideway thì nên hướng đến những cổ phiếu có thị giá lớn, biên độ giao động hẹp, khó giảm với mục tiêu tối thiếu hóa rủi ro hoặc đứng ngoài thị trường (nếu cần thiết).

Trân trọng

Thứ Sáu, 29 tháng 4, 2011

Mua cổ phiếu quỹ


Một năm rưỡi “nếm mật nằm gai” với Bear Market, 97% cổ phiếu phải chịu cảnh giảm điểm kể từ tháng 10 năm 2009, trong đó có đến 71.7% cổ phiếu trên HSX và 77.7% cổ phiếu trên HNX mất hơn 50% giá trị.
Dẫu biết kinh tế vĩ mô cả nội tại lẫn thế giới vẫn đang loay hoay với hàng loạt vấn nạn như lạm phát, nợ công, bong bóng tài sản… Nhưng thử đi sâu vào doanh nghiệp, cách nhìn của doanh nghiệp đối với hoạt động của chính công ty mình. Rõ ràng tình hình không đến nỗi quá bi quan. Kết thúc năm tài chính 2010, hầu hết các doanh nghiệp đều báo cáo lãi, nhiều trong số đó còn có mức tăng trưởng vượt bậc. Kế hoạch kinh doanh 2011, cũng không đến nỗi suy giảm so với 2010. Vậy các doanh nghiệp đánh giá thế nào về thị giá cổ phiếu của chính công ty mình khi thị trường đã bào mòn khủng khiếp vốn hóa trong khi đó hoạt động cốt lỗi vẫn trong tầm kiểm soát và tài sản vẫn tăng trưởng?
Trong chuyên đề này, chúng tôi muốn lưu ý quý nhà đầu tư một điểm khá nhạy cảm và quan trọng trong dòng thông tin doanh nghiệp hiện nay mà ít người để ý, hoạt động mua vào cổ phiếu quỹ. Hiện có đến 38 công ty niêm yết trên 2 sàn đang đăng ký mua vào cổ phiếu, với số tiền lên đến 1,051 tỷ đồng. Tính từ đầu năm đến nay, có 106 tin công bố liên quan đến cổ phiếu quỹ, và hoạt động đăng ký mua vào trở nên rầm rộ 2 tháng trở lại đây. Rõ ràng đây là dòng thông tin vô cùng quý giá, đặc biệt trong bối cảnh khan hiếm tin tốt và nỗi lo pha loãng.
Động thái mua cổ phiếu quỹ một mặt xuất phát từ động lực đầu tư trên chính cổ phiếu của công ty, mặt khác còn xuất phát từ chính sách phân phối lợi nhuận cho nhà đầu tư mà không mất thuế thu nhập từ cổ tức. Đứng trên khía cạnh nhà đầu tư, động thái mua vào cổ phiếu quỹ giúp nâng đỡ giá cổ phiếu, về dài hạn, động thái này sẽ là một phần thưởng lớn cho nhà đầu tư vì giúp giảm khối lượng cổ phiếu lưu hành qua đó làm tăng EPS, tăng ROE, ROA… Các chuyên gia phố Wall đánh giá “mua cổ phiếu quỹ tương đương với việc tăng cổ tức, phát triển sản phẩm mới, khởi động một dây chuyền mới, sáp nhập…”
Danh sách những cổ phiếu đang được chính Công ty đăng ký mua vào.

STT
Mã CP
ĐK Mua
KLĐLH
Giá
STT
Mã CP
ĐK Mua
KLĐLH
Giá
1
AAM
1,100,000
10,239,864
19,800
20
PPG
400,000
6,600,000
8,000
2
ABT
1,360,720
13,607,207
40,000
21
PV2
1,000,000
37,350,000
6,900
3
APC
1,500
11,442,100
13,000
22
PVI
4,000,000
158,709,664
16,400
4
CSG
5,948,404
26,771,660
8,600
23
SDH
1,600,000
20,505,000
15,900
5
DRH
1,800,000
18,399,702
6,500
24
SHN
500,000
31,643,360
15,200
6
DXG
23,920
16,000,000
23,800
25
SSG
3,000
4,981,190
9,200
7
EFI
930,000
13,195,700
7,400
26
SSM
550,000
5,497,477
12,100
8
GIL
1,000,000
12,774,588
22,200
27
TDH
2,000,000
37,875,000
23,900
9
GTA
300,000
10,130,000
7,600
28
TH1
990,000
12,482,616
21,000
10
HCM
362,000
59,841,436
21,000
29
TV4
2,135
4,204,528
12,800
11
HPG
10,000,000
317,849,760
34,400
30
VC7
50,000
7,800,000
14,300
12
HSG
2,000,000
100,770,778
14,000
31
VC9
500,000
12,000,000
11,500
13
HVG
5,000,000
64,737,753
17,100
32
VDL
30,000
3,128,840
35,000
14
IDV
135,000
3,393,500
19,100
33
VGS
2,000,000
37,198,710
8,300
15
KKC
520,000
5,200,000
15,200
34
VNE
700,000
62,742,141
6,800
16
MCG
5,460,000
54,600,000
13,000
35
VNI
100,000
10,359,866
10,000
17
NHC
122,000
1,496,045
26,300
36
VNM
29,170
356,496,870
97,500
18
PHH
1,500,000
19,000,000
9,100
37
VOS
2,000,000
140,000,000
7,200
19
POM
1,000,000
186,336,991
19,500
38
VSP
5,168,686
32,915,803
12,800Bottom of Form
Bottom of Form


Sở dĩ dòng thông tin mua vào cổ phiếu quỹ trở nên phổ biến thời gian gần đây là vì giá những cổ phiếu này đã suy giảm nghiêm trọng làm các chỉ số định giá cơ bản trở nên hấp dẫn tương đối so với thị trường. Thêm vào đó, tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp vẫn trong tầm kiểm soát, các khoản tiền, tương đương tiền dồi dào.
Biểu đồ biến động giá của nhóm CP đang mua vào CPQ, VN-Index, HNX-Index 1 năm qua

* Nhóm CPQ*: giá của các cổ phiếu trong nhóm mua vào cổ phiếu quỹ, được tính theo quy tắc trung bình đơn giản (không trọng số); Nhóm CPQ: giá của các cổ phiếu trong nhóm mua vào cổ phiếu quỹ, được tính theo quy tắc bình quân có trọng số.

Nhóm cổ phiếu có đăng ký mua vào cổ phiếu quỹ đã giảm 63.7% trong vòng 1 năm (đường màu tím “Nhóm CPQ*” biểu đồ trên). Đây là mức suy giảm rất lớn so với VN-Index (12.3%), HNX-Index (52.8%).
Mức giảm giá lớn trong thời gian vừa qua đã làm các chỉ số định giá cơ bản của nhóm đăng ký mua vào cổ phiếu quỹ quay về mức khá hấp dẫn so với thị trường. P/E, P/B của nhóm chỉ ở mức 8.38 và 1.72 thấp hơn mức 10.55 và 2.81 trung bình thị trường.
Tuy trên thị trường chứng khoán, giá các cổ phiếu này liên tục suy giảm nhưng tình hình hoạt động và tình hình tài chính tại các doanh nghiệp vẫn tăng trưởng và trong tầm kiểm soát. Doanh thu, lợi nhuận sau thuế năm 2010 tăng trưởng lần lượt ở mức 49%, 20%; ROE 2010 đạt 20.6%; nợ chỉ chiếm 52.9% tổng tài sản (trung bình toàn thị trường là 62%); tổng tiền và tương đương tiền cuối 2010 của nhóm này đạt 4,903 tỷ đồng.
Từ những lợi ích phân tích ở trên, ta thấy dòng thông tin mua vào cổ phiếu quỹ nở rộ thời gian gần đây là một  vectơ ngược quý giá trong bối cảnh truyền thông liên tục đào bới “hố đen” lạm phát, bội chi, nợ công, bong bóng tài sản… Đây là hồi chuông cảnh tỉnh cho những nhà đầu tư còn mãi “ám ảnh” bởi sự suy giảm của thị trường mà quên đi rà soát, phân tích các yếu tố thuộc về cội nguồn gốc rễ của doanh nghiệp. Đến đây nhà đầu tư nên tự hỏi lại mình “liệu ta có đang bi quan thái quá?”, “tại sao người hiểu rõ nhất doanh nghiệp lại mua vào cổ phiếu của chính mình, trong khi đó ta lại bán tháo?”.
P/S: Sau khi xem xét các yếu tố về dòng tiền mặt, các khoản có thể chuyển sang tiền mặt của các cổ phiếu trong nhóm đăng ký mua vào cổ phiếu quỹ, chúng tôi chỉ hoài nghi VSP và SDH về khả năng nguồn tiền, những cổ phiếu khác đều có nguồn dồi dào và thừa khả năng thực hiện việc đăng ký này. Dự kiến trong thời gian tới chúng tôi sẽ có một phân tích chi tiết về CSG -  một cổ phiếu đang nắm một lượng tiền lớn và đang đăng ký mua vào 20% khối lượng cổ phiếu đang lưu hành làm cổ phiếu quỹ.