Thứ Năm, 16 tháng 2, 2012

Một phân tích thị trường phân đạm 2012 khá được

Tấn Đức TBKTSG 16.02.2012


Tg dự báo giá phân đạm trong 2012 sẽ bám chặt với giá phân đạm thế giới vì:
1. Nguồn cung trong nước đang tăng lên rất nhanh chóng, hiện DPM và Hà Bắc sx 1 năm 1 triệu tấn, đáp ứng 1/2 nhu cầu thị trường. Từ tháng 3.2012 tới Đạm Cà Mau, cs 800k tấn và đạm Ninh Bình 560k tấn đi vào sản xuất, sẽ vượt cầu trong nước.
2. Mặt hàng phân bón thuộc nhóm bị quản lý giá, do vậy bất chấp DPM được giao phân phối hết phần đạm do Đạm Cà Mau sx cũng không được tùy tiên nâng giá (còn bị chi phối bởi luật cạnh tranh, khi 1 doanh nghiệp nắm >=40% thị phần), ngoài ra, nguồn cung từ nhập lậu phân bón, ngay cả nhập chính thức thì thuế suất cũng chỉ 0%. Còn giảm giá thì không khả thi do xu hướng giá dầu tăng trong khi giá đạm đang giảm (lưu ý là Nhà máy đạm Cà Mau có suất đầu tư gấp đôi DPM, phải sử dụng dầu FO theo giá thị trường, chứ không được đặc quyền đặc lợi nào hết, do vậy giá thành sản phẩm sẽ cao, giao xuống đại lý phân phối cũng ko mấy hấp dẫn, chiết khấu thấp).
Hệ quả: những doanh nghiệp chuyên sống bằng nghề nhập khẩu phân bón để bán buộc phải thay đổi tư duy ko là chết, trong đó có TSC.


Update 22.02.2012
PVN đáp ứng 80% nhu cầu phân đạm trong nước 


(SGGPO).- Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN) cho biết, lô hàng thương phẩm đầu tiên của Nhà máy Ðạm Cà Mau đã xuất xưởng. Ðây là dự án sản xuất phân đạm thứ hai của PVN, sau Nhà máy Ðạm Phú Mỹ. Hai nhà máy này mỗi năm có khả năng cung cấp 1,6 triệu tấn phân u-rê, đáp ứng gần 80% nhu cầu thị trường trong nước. Với hai nhà máy này và một loạt dự án khác, từ chỗ phải nhập khẩu toàn bộ phân u-rê, chúng ta đã có thể đáp ứng đủ nhu cầu phân đạm và tiến tới xuất khẩu ra nước ngoài.

Ngay khi lô hàng thương phẩm đầu tiên xuất xưởng, PVN đã quyết định giao cho Tổng công ty Phân bón và hóa chất dầu khí (PVFCCo) tiêu thụ toàn bộ sản phẩm của Nhà máy Ðạm Cà Mau.  

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2012

làn sóng đầu tư vào ngành dược ở VN

Đã từ rất lâu người ta đã đồn đoán với nhau rằng ngành dược VN sẽ bị nước ngoài "xâm chiếm" khi hội đủ điều kiện. Thời gian gần đây chúng ta dần thấy việc đó hiện thực hóa.


Khủng hoảng Châu Âu và đồng Yên tăng giá làm dòng vốn đầu tư toàn cầu dần quay về với các nước đang phát triển, trong đó ưu tiên những quốc gia như VN, Indo, ... (một nghiên cứu trước đó cho thấy dòng tiền bắt đầu khựng lại ở nhóm BRIC do những lợi thế ban đầu như lao động giá rẻ... bắt đầu không còn). Dòng vốn từ Nhật có lẽ là cái dễ cảm nhận hơn hết, họ còn công bố cả đơn hàng cho những tổ chức môi giới ở VN rằng họ đang cần những Cty tốt trong ngành tiêu dùng, dược phẩm,... Ai có giới thiệu cho họ. Đây chính là thiên thời.
Yếu tố tiếp theo là chính phủ VN đã bắt đầu nhận thấy những yếu tố cần thiết trong điều hành chính sách giúp thu hút dòng vốn ngoại. Trước đây, tỷ giá nhảy loạn xạ, nước ngoài vừa đầu tư đầu năm, cuối năm đã bay mất >10% do phá giá đồng nội tệ. Giờ đây chính sách hàng đầu là kiểm soát tỷ giá, kiểm soát giá vàng trong nước đồng thời tìm mọi cách khuyến khích dòng vốn Việt Kiều gởi về nước đầu tư, cố gắng kiểm soát nhập siêu. Đây chính là địa lợi.
Yếu tố kế đến là cách làm và con người trong điều hành các công ty dược ở VN dần thay đổi. Nếu như trước đây hầu hết công ty dược đều là những người hoạt động trong ngành, nhận thấy cơ hội, đam mê nảy ra hoạt động, và phương thức không khác chi gia đình, làm bao nhiêu ăn bấy nhiêu thì nay những quỹ đầu tư dần nhảy vào những cty dược, họ giúp khá nhiều cho cty, mang lại sự chuyên nghiệp về mặt hoạt động, tiếp cận những phương thức quản bá doanh nghiệp mới, đặc biệt là họ mang vào một luồng tư duy mới về cổ phần, cổ phiếu. Sự mở rộng và khuếch đại công ty giờ đây không còn đơn thuần là từ lợi nhuận để lại, từ vốn vay trên thị trường (cái này ít vì hầu hết cty dược đều có vay nợ thấp) mà còn nhờ rất lớn từ thị trường chứng khoán, từ thị trường vốn. Hàng loạt công ty tăng vốn, phát hành và mở rộng doanh nghiệp đến chống mặt trong khi khởi đầu chỉ là những cty già đình vài tỷ bạc, điển hình là JVC. Phải khen cho những quỹ đi vào doanh nghiệp, biến đổi doanh nghiệp cho phù hợp với khẩu vị của bọn tây và bán cho bọn chúng. Và trong mua lại doanh nghiệp (ý nói mua lại với 1 tỷ lệ lớn) thì dẫu sao mua lại từ một tổ chức, hay quỹ lúc nào cũng dễ hơn là mua lại từ chính mấy ông sống chết gầy dựng doanh nghiệp từ đầu. Điều này làm thanh khoản trong M&A nhiều hơn và dòng vốn ngoại sẽ dễ đổ vào Vn hơn. Đây chính là nhân hòa.


Hội đủ cả thiên thời, địa lợi và nhân hòa như vậy cho nên hoạt động mua bán trong lĩnh vực dược phẩm sẽ tiếp tục diễn ra sôi động trong thời gian tới. Một gợi ý chiến lược cho nhà đầu tư nhỏ lẻ, thông thường thương vụ chào mua công khai nào cũng đẩy giá cổ phiếu trên sàn tăng (bất chấp diễn biến thị trường thế nào) vì doanh nghiệp mục tiêu thường áp dụng các biện pháp phòng thủ, do vậy việc xem xét mua theo (tất nhiên là có chọn lọc và có phân tích thêm thông tin khác) có thể mang lại tỷ suất sinh lợi tốt.


Dưới đây tôi xin liệt kê ra một số quỹ đang sở hữu những Cty dược trên sàn
FTIF - Templeton Frontier Markets Fund: 8% DHG
CFR International SPA: 41.9% DMC
Deutsche Bank Aktiengesellschaf. & Deutsche Investment Management Americas Inc: 4.9% DMC
Quỹ Đầu tư Chứng khoán Y tế Bản Việt (VCHF): 1.74% DMC
FTIF - Templeton Frontier Markets Fund: 9.23% IMP
Vietnam Holding Limited: 6.02% IMP
Quỹ Đầu tư Chứng khoán Y tế Bản Việt (VCHF): 5.87% IMP
J.P Morgan WhiteFriars INC.: 4.57% IMP
Quỹ tầm nhìn SSI: 12.02% OPC
Quỹ Đầu tư Chứng khoán Y tế Bản Việt (VCHF): 5.27% OPC
Pure Heart Value Investment Fund: 3.6% OPC
Vietnam Azalea Fund Limited: 25%
Công ty Quản lý quỹ Đầu tư chứng khoán Bản Việt: 6% JVC
Vietnam Equity Holding: 5.43% JVC
Vietnam Holding Limited: 5.09% JVC
Quỹ Đầu tư Chứng khoán Y tế Bản Việt (VCHF): 4.34%
CTCP Tập đoàn Đầu tư IPA: 5.34% DHT
Quỹ Đầu tư Phát triển Hà Tây: 5.34% DHT


Thông tin mua bán gần đây như sau:
15.2.12: Vietnam Azalea Fund muốn chào mua công khai gần 1,24 triệu cổ phiếu TRA, giá 45k, 23/02/2012 đến 25/03/2012
15.2.12 Quỹ đầu tư công nghiệp DI Châu Á sẽ nắm giữ 10 triệu cổ phiếu của Công ty cổ phần thiết bị y tế Việt Nhật
15.1.12 DMC: CFR International SPA đã "gom" xong 38,58% vốn.

(Nói nhỏ: mặt dù sinh sau đẻ muộn nhưng quỹ y tế Bản Việt đã rất nhanh chân, hầu hết đều có cổ phần trong những Cty y tế ngon, vậy sao mình không theo nhỉ :))

Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2012

Tóm tắt tác phẩm Thị trường và đạo đức

1. Tóm tắt bài phỏng vấn do Tom G. Palmer thực hiện, John Mackey ghi. (John Mackey, doanh nhân, đồng-sáng lập viên và là đồng-giám đốc điều hành công ty Whole Foods Market, giải thích triết lí của ông về “chủ nghĩa tư bản tự giác” và chia sẻ những suy nghĩ của ông về bản chất và động cơ của con người, bản chất của kinh doanh, và sự khác nhau giữa chủ nghĩa tư bản thị trường tự do và “chủ nghĩa tư bản ô dù”).


Ông cho rằng nước Mỹ đã từng là một thị trường của tư bản tự do, nơi còn người tự do kinh doanh, tự do phát triển, năng động và luôn tìm ra cái mới, cái mà ông gọi là có làm thì mới có ăn. Tuy nhiên, trong hơn 1 thập kỷ trở lại đây, nước Mỹ đang dần chuyển hoá sang thị trường của tư bản ô dù, những thế lực ngầm lobby chính sách để chính phủ phục vụ ngược lại cho họ, ban họ những đặc quyền, đặc lợi về thuế là một cách giết chết sự cân bằng, vì về cơ bản chính phủ ko có tiền, chính phủ lấy tiền của người này đem cho người khác thì quá mất cân bằng đi chứ. Ông tôn sùng chủ nghĩ tư bản tự do (cái mà ông gọi là chủ nghĩa tư bản tự giác) vì ở đó mọi người đều có lợi, việc kinh doanh của ông là một ví dụ, công việc kinh doanh tạo ra lợi nhuận cho công ty, tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn người lao động (họ hạnh phúc và tự nguyện làm việc cho công ty chứ ko có bóc lột gì cả), tạo lợi ích cho các nhà cung cấp, tạo lợi ích cho cổ đông và ông có thể làm từ thiện để chia sẻ lợi ích mà cty có được với hàng triệu người, ông dẫn chứng cho sự tôn sùng của ông bằng chính nước Mỹ, Mỹ bắt đầu = sự nghèo khổ nhưng sau 200 năm phát triển tư bản tự do đã trở thành nước giàu nhất thế giới.

John Mackey đề cao đạo đức trong kinh doanh cũng như trong vận hành nền kinh tế, một người kinh doanh có đạo đức là  người dựa trên mối quan hệ win win trong mọi đối tượng, đối tác làm ăn. Đọc tới đây tôi nghĩ đến một số việc làm của doanh nhân TQ, họ dám làm cả trứng gà giả, nhân bánh bao giả, sửa hoá chất độc hại.... rõ ràng đạo đức của họ ko tốt. Rõ ràng chủ nghĩa tư bản dựa trên những tổ chức kinh doanh như thế này là ko thể chấp nhận. --> vấn đề đặt ra ở đây là làm sao để người kinh doanh đều có đạo đức, để mọi người cùng hướng về tư bản tự do?


Trong bài phỏng vấn này, chúng ta còn được thấy một tâm lý hành vi của con người, dường như những người đạt được tất cả những nhu cầu cơ bản, cả nhu cầu được tôn sùng thì họ chỉ muốn hướng đến một mục tiêu cao cả hơn, một mục tiêu của các vị bồ tát, cứu nhân độ thế, Bill Gates, Buffet, và cả Mackey... --> Liệu rằng tâm lý hành vi có phải là cái động, cái có thể biến động theo từng nấc thang phát triển của con người, trong từng giai đoạn khác nhau hành vi của 1 con người cụ thể sẽ rất khác nhau? Liệu Bill Gate có từng nghĩ đến toàn bộ sự nghiệp cuối đời của mình dành cho từ thiện ở lứa tuổi 25? Liệu rằng ở các lứa tuổi trẻ hơn và chưa thật sự có mọi thứ họ muốn họ có tấm lòng bồ tát? Những điều này làm cho tôi nghĩ tâm lý hành vi không dễ là môn nghiên cứu 1 sớm 1 chiều đưa ra một kết luận phổ quát.


Gốc: here

2. Đạo đức kinh doanh


Câu hỏi hấp dẫn hơn là liệu công ty có thể hoạt động mà không cần có ý thức về đạo lí? Mục tiêu duy nhất của công ty này là tối đa hóa lợi nhuận. Công ty có thể hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật nhưng không quan tâm tới các nguyên tắc đạo đức. Họ có thể hỏi đường lối hoặc việc làm của họ là hợp pháp hay phi pháp, nhưng họ không hỏi là đúng hay sai. Đạo đức nằm bên ngoài phạm vi kinh doanh. Tiêu chuẩn lương thiện của họ có thể bắt nguồn từ thói vị lợi, tính liêm khiết của cá nhân có thể là không quan trọng, và cá nhân chỉ được đánh giá theo tỉ lệ đóng góp của anh ta mà thôi.


Tg cho rằng nếu xảy ra hiện tượng đó thì trước sau gì chi phí hoạt động của cty cũng sẽ tăng lên và cty dần rơi vào cảnh mất khả năng cạnh tranh với các đối thủ khác. (xem những dẫn chứng cụ thể của tg).


Vậy đạo đức kinh doanh là gì? Mỗi công ty có cách hiểu khác nhau về tiêu chuẩn đạo đức của công ty và cách thể hiện nó. Nhưng nghiên cứu điều lệ của nhiều công ty khác nhau ta thường thấy những chủ đề sau đây: liêm khiết, trong sáng, lương thiện và nói đúng sự thật, tôn trọng cá nhân con người vì đấy là những người có nhân phẩm, đối xử không thiên vị với mọi người, phục vụ một cách hoàn hảo, đặc biệt là trong quan hệ với khách hàng và trong phương thức lãnh đạo của những người có chức quyền, tầm quan trọng của sự hợp tác, trách nhiệm của công ty đối với môi trường, và cam kết ủng hộ những cộng đồng, nơi công ty đặt cơ sở sản xuất.


Gốc: here 

Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2012

Tranh cãi quanh chuyện đầu cơ (speculation) và đầu tư (investment)

Theo ĐTM: đầu cơ là cần thiết và phản ánh bản ngã của loài người: đầu cơ giúp cấu trúc xã hội phát triển, kinh tế theo đó phản triển. Theo tg, đầu cơ nằm lưng lửng giữa hành động có tính khoa học và hành động có tính cờ bạc, "Hành động có tính đầu cơ là hành động chỉ dựa một phần vào kinh nghiệm đã biết. Do còn nhiều yếu tố liên quan đến hành động mà ta không biết, hoặc không thể biết, nên khả năng thành công của hành động là không chắc chắn. Tuy nhiên, bởi hành động có tính đầu cơ dựa một phần vào kiến thức đã biết, nên ta không đơn thuần chỉ có cơ hội thành công tương tự như đánh bạc, mà còn có khả năng nâng cao được cơ hội thành công nếu ta chịu khó học hỏi". Những nhà đầu cơ chuyên nghiệp là những nhà đầu cơ giúp tiết giảm tối đa rủi ro có thể có. các nhà đầu cơ chuyên nghiệp đều phải tìm cách giúp khách hàng của mình kiểm soát rủi ro đồng thời tìm cách phân tán rủi ro sang cho nhiều người khác nhằm đảm bảo rằng hoạt động kinh doanh của mình có lợi nhuận. Chính vì nhu cầu phải phân tán rủi ro sang cho nhiều người khác nhau dẫn đến xuất hiện tầng tầng lớp lớp các nhà đầu cơ chuyên nghiệp khi nền kinh tế thị trường toàn cầu bùng nổ. Ngày nay, khi nhắc đến giới đầu cơ, người ta chỉ còn nói đến giới kinh doanh các sản phẩm phái sinh. Theo Wikipedia, tổng giá trị của các hợp đồng phái sinh toàn cầu vào giữa năm 2007 ước khoảng 510 nghìn tỷ USD, lớn gấp hơn 4 lần tổng giá trị tài sản thực trên toàn thế giới. --> sự phát triển chóng mặt này đã giúp đồng vốn dịch chuyển nhanh hơn đến những vùng trũng về tiềm năng sinh lợi. Vậy đầu cơ có phải là tội đồ cho khủng hoảng 2008 - 2009? Theo tg thì không, nhà đầu cơ đã quá tin vào điều hành chính sách của chính phủ, của các NHTW, đã khiến họ hạ thấp các tiêu chuẩn an toàn về vốn, đẩy dân chúng vào các hành động tiêu dùng và đầu tư quá mức, dẫn đến khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Chính vì cho rằng nhà nước và quản lý nhà nước mới chính là căn nguyên sâu xa của khủng hoảng nên tg đề xuất chính phủ nên tối thiểu hoá rủi ro tập trung (regime uncertainty) (rủi ro ko thể triệt tiêu = quy luật số lớn). Hay nói cách khác, các chính phủ nên tập trung vào cân bằng chi tiêu ngân sách, xây dựng các luật lệ ổn định, và tạo 
ra một đồng tiền “tốt” không bị mất giá trị.


Tg liệt kê một số loại hình đầu cơ cơ bản "hành động đầu cơ là hành động đầu tư vào những thị trường/hoạt động có mức rủi ro cao hơn mức trung bình để có thể thu được lợi nhuận ở mức cao hơn mức trung bình của thị trường"
1- Hành động khởi nghiệp/sản xuất (entrenpreneurship): tập hợp các yếu tố sản xuất để tạo ra hàng hoá và bán lấy lợi nhuận.
2- Hành động buôn bán (arbitrage): mua hàng hoá ở chỗ này bán sang chỗ khác để hưởng chênh lệch giá.
3- Hành động mua bán cổ phiếu để tham gia điều hành doanh nghiệp nhằm hưởng cổ tức.
4- Hành động mua bán cổ phiếu hoặc các loại tài sản chứng khoán hoá (commodities, tỷ giá,...)  để hưởng chênh lệch giá tài sản.
5. Hành động thuộc nhóm 4 nhưng với leverage cao để hưởng lợi nhuân lớn.
6- Hành động bán khống cổ phiếu hoặc tài sản chứng khoán hoá (short-selling) để hưởng chênh lệch giá.



Hành động từ 4 trở đi thường bị người ta phê phán nhưng theo tg thì chính nhờ những hành động này mà đồng vốn sẽ thông minh và linh hoạt rất nhiều, nơi đâu có cơ hội sẽ là nơi để dòng tiền chuyển tới, ngược lại những  nơi hết cơ hội hoặc đang rơi vào khó khăn sẽ chứng kiến cảnh rút vốn cực mạnh ra khỏi đó, và nhờ đó mà nó tác động ngược lại hoạt động sản xuất hàng hoá, làm giá cả hàng hoá phản ánh đúng hơn với thị trường.
Tg còn phân tích đầu cơ ở 2 khía cạnh, thứ 1 là sự gian lận (cheating), rõ ràng đây là hành vi ko thể chấp nhận, các cơ quan quản lý nhà nước phải có trách nhiệm phát hiện những kẻ vi phạm luật chơi này, thứ 2 là mối quan hệ giữa đầu cơ và khủng hoảng, tg cho rằng, đầu cơ không tạo ra khủng hoảng (vì khủng hoảng nó nằm ở chỗ nhà nước và quản lý nhà nước như đã nói ở trên), tg cũng không cho rằng đầu cơ làm cho khủng hoảng tồi tệ thêm vì trong trường hợp khủng hoảng là do xấu thật, hoạt động short selling chỉ có tác động làm nền kinh tế vận động nhanh hơn đến mặt bằng xấu, còn trong trường hợp nền kinh tế ko xấu đến nỗi nhưng vì thông tin bất cân xứng làm nhà đầu cơ ngộ nhận thì nhà nước, các cơ quan giám sát phải có động tác dừng giao dịch để nhà đầu cơ có thời gian ngẫm nghĩ phân tích lại để đánh giá đúng tình hình. 


TS LHG cho rằng đầu cơ đơn giản chỉ là sự mua rẻ bán đắt, đầu cơ không trực tiếp nằm trong hoạt động sản xuất, nó nằm ở khâu phân phối, từ cổ chí kim người ta thường nhìn dân đầu cơ với ánh mắt không mấy tích cực. Ông cho rằng đầu cơ không hẳn xấu tuy vậy nên có kiểm soát cho hoạt động này, đặc biệt là trong giai đoạn suy thoái khủng hoảng, đầu cơ sẽ làm cho thị trường sụp đổ nhanh chóng.

Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2012

Crowding out effect - hiệu ứng chèn lấn

Hiệu ứng chèn lấn (crowding out effect), đây là hiện tượng sụt giảm trong tiêu dùng hoặc đầu tư tư nhân xảy ra do sự gia tăng trong tiêu tiêu của chính phủ (đầu tư công). 
Thông thường đối với các khoản đầu tư công gia tăng nếu không được hỗ trợ bằng việc gia tăng từ thuế thì một cách phổ biến là các chính phủ phải sẽ phải dụng nợ vay để tài trợ. Gia tăng nhu cầu vay nợ, tăng cầu tiều là nguyên nhân cơ bản làm tăng lãi suất (chi phí phải trả cho vay nợ), từ đó gây tác động sụt giảm trong đầu tư của khu vực tư nhân (Lãi suất đi vay cao >>> Chi phí gia tăng >>> Lợi nhuận sụt giảm)
Trong dài hạn, sự sụt giảm trong đầu tư tư nhân có thể tạo những tác động nghiêm trọng tới việc ổn định sản lượng tiềm năng của nền kinh tế. 

- Một số lý thuyết cho rằng việc gia tăng đầu tư công có kiểm soát và chọn lọc thông qua việc chính phủ mở rộng khu vực sản xuất tư bằng các chính sách ưu đãi hoặc kích thích đầu tư đối với tư nhân. Như vậy lúc này, việc chính phủ gia tăng chi tiêu trong khu vực công không những không gây ra sự chèn lấn cho đầu tư tư nhân mà còn có tác dụng kích thích một hiệu ứng đầu tư cùng chiều (“crowding in” hay hiệu ứng “gia tốc” – “accelerator effect
- Bên cạnh đó, trên lý thuyết thì hiệu ứng chèn lấn có thể giảm thiểu bằng việc gia tăng chi tiêu công kết hợp với in tiền. Việc in thêm tiền (tăng cung tiền để ổn định lãi suất), trên thực tế thường gây ra tình trạng lạm phát trong nền kinh tế.




Investopedia explains 'Crowding Out Effect'

Governments often borrow money (by issuing bonds) to fund additional spending. The problem occurs when government debt 'crowds out' private companies and individuals from the lending market.


Increased government borrowing tends to increase market interest rates. The problem is that the government can always pay the market interest rate, but there comes a point when corporations and individuals can no longer afford to borrow.

Read more: http://www.investopedia.com/terms/c/crowdingouteffect.asp#ixzz1m2uBtxQJ





Trong một bài viết của TS Vũ Quang Đông "lãi suất khi nào giảm?" có đề cập đến hiệu ứng chèn lấn để dự đoán khả năng giảm lãi suất theo tuyên bố của các vị đứng đầu chính phủ. Việc giảm lãi suất theo CPI là hoàn toàn đúng với lý thuyết nhưng khi nào giảm, liệu  có giảm liền khi CPI về mức 1 con số, lãi suất chịu tác động cả cung tiền, những thứ lằng nhằng khác và lạm phát kỳ vọng. Yếu tố lạm phát kỳ vọng đóng một vài trò rất rất lớn, liệu lãi suất có giảm được ngay khi người dân chưa thật tin tưởng khả năng giữ mức CPI thấp trong một thời gian đủ dài? Ngoài ra, nếu không khéo CP nhanh nhảy tăng đầu tư công khi thấy lạm phát về 1 con số có thể gay ra hiệu ứng lấn át, vì khi đó nền kinh tế vừa thoát ra khỏi những khó khăn, ngân sách chịu thâm hụt triền miên vì nguồn thu thuế giảm, để gia tăng đầu tư công không còn cách nào khác là phải huy động thông qua bonds khi đó, chính nhu cầu vay nợ của chính phủ sẽ đẩy mặt bằng lãi suất lên cao, một lần nữa ảnh hưởng xấu đến đầu tư cá thể, ảnh hưởng đến tiêu dùng của người dân, và một lần nữa rơi vào "vòng lẩn quẩn"....

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2012

Ý tưởng quản bá ck khu vực ASEAN, VN góp 30 CP hàng đầu

Làm trong nghề chứng khoán, nghe những tin này thật thích thú.
Vấn đề còn lại là những nhà tổ chức, các vị chịu trách nhiệm triển khai phải thật sự cố gắng, làm cho ra khoai ra ngô chứ đừng nên làm cho lấy có, để thị trường chứng khoán sớm trở về kênh huy động vốn chính cho nền kinh tế.
http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/chung-khoan/2012/02/30-co-phieu-viet-niem-yet-o-thi-truong-asean/

Tiếp tục khuyến khích nông nghiệp

Tôi rất phấn khích khi thấy nhà nước dần dần nhận ra điểm mạnh của mình. Những thứ không phải thế mạnh của mình mà một thời ngộ nhận và muốn phát triển cho bằng được dần dần trở nên xa vời. VN với 70% dân làm nông nghiệp, đóng góp 16.1%GDP, và là ngành cứu nền kinh tế VN trong 2011 khi các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ đều có tăng trưởng chậm lại chỉ còn nông nghiệp là điểm sáng.
Nông nghiệp giúp mang lại nguồn ngoại tệ khá lớn khi xuất khẩu liên tục tăng qua các năm.

Điểm mặt chính sách:
- Giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho Agribank, MDB, MHB, LPB, và quỹ tín dụng nhân dân = 1/5 so với tỷ lệ bình thường của từng loại kỳ hạn tiền gởi. (Tham khảo quá khứ đã áp dụng 1 lần: http://cafef.vn/20101209050350776CA34/giam-manh-ty-le-du-tru-bat-buoc-doi-voi-1-quy-tin-dung-va-4-ngan-hang.chn)
- Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng nông nghiệp năm 2012 là...., cao hơn so với các lĩnh vực khác (...)


Ngành nông nghiệp đã cứu đất nước này --> TS Đặng Kim Sơn


còn tiếp...